#115 – VÀI NHẬN XÉT ĐỀ THI

Một vài nhận xét dựa trên việc phân tích những đoạn trích trong phần thi đọc của 4 bài thi tiếng Anh chuẩn hóa TOEIC®, TOEFL® ITP, PTE AcademicIELTS .


Bài thi đọc TOEIC® dành đến 40 câu trắc nghiệm chỉ để kiểm tra kiến thức từ vựng và ngữ pháp đơn thuần.

Câu 121. đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức ngữ pháp và từ vựng, cách dùng của dành từ; trong khi câu 122. đòi hỏi thí sinh phải biết nghĩa của câu và tối thiểu 3 lựa chọn. Tương tự, câu 131. cũng chỉ hỏi ngữ pháp trong khi câu 132. thì phải hiểu nghĩa của câu chứ đáp án và tối thiểu 3 lựa chọn.

Xác suất làm đúng những câu này rất cao, với kiến thức “lỏm bỏm”, và một vài mẹo làm bài, thí sinh có thể đạt tỷ lệ đúng khá cao. Vì vậy, điểm số không đảm bảo rằng thí sinh sẽ có thể sử dụng tiếng Anh.

Thực tế cho thấy, dù ETS (nơi quản lý bài thi TOEIC®) đã công bố nhiều nghiên cứu chứng minh giá trị của bài thi, nhưng mức điểm TOEIC® tổng của 2 kĩ năng nghe & đọc không có giá trị gì đáng kể trong thực tế, ngoại trừ việc dùng làm một tiêu chuẩn xét… tốt nghiệp tại nhiều trường.

Bài thi TOEIC® dù có đủ 4 phần, kiểm tra cả 4 kĩ năng nghe – nói – đọc – viết nhưng đa số các trường từ trước tới nay chỉ yêu cầu sinh viên 2 kĩ năng nghe – đọc. Không kiểm tra được kĩ năng nói – viết thì rất đáng tiếc. Trong tương lai, cả 4 kĩ năng phải là bắt buộc. Tuy nhiên, dù bắt buộc, thì bài thi TOEIC® là dạng bài thi có yêu cầu ngôn ngữ ở mức độ thấp mà thôi.


Tương tự, cách đây nhiều năm, bài thi TOEFL® ITP (hay còn gọi là TOEFL® nội bộ) khá phổ biến tại Việt Nam. Phần Structure & Writen Expression của bày này có dạng thức khá giống với bài thi TOEIC® tôi nêu trên, dành đến 40 câu chỉ để kiểm tra kiến thức ngữ pháp đơn thuần riêng lẻ.

Trong phần trích đề thi trên, tất cả những câu 5. 6. 16. và 17. đều chỉ hướng đến kiểm tra kiến thức ngữ pháp của thí sinh. Đã có thời, các tập sách ngữ pháp dày là “bảo bối” của thí sinh.

Phần thi này tập trung rất sâu vào kiến thức ngữ pháp của thí sinh. Phải ôn luyện rất nhiều và rộng thì điểm mới tốt. Cá nhân tôi cho rằng, đây là một quan điểm lạc hậu trong khảo thí. Cái quan trọng kiểm tra xem thí sinh làm được cái gì chứ không phải là kiểm tra xem họ biết được bao nhiêu, nhớ bao nhiêu. Bài thi thuần ngôn ngữ hiệu quả phải là một bài thi kiểm tra được những kiến thức và kĩ năng cốt lõi.

Bài thi này còn một phần khác là kiểm tra từ vựng và kĩ năng đọc (Vocabulary & Reading Comprehension) đến 50 câu, đây  là phần thi cũng rất áp lực. Bài thi TOEFL® ITP chỉ kiểm tra 3 phần là nghe, ngữ pháp, từ vựng và đọc hiểu. Hoàn toàn không đả động gì tới nói và viết. Trong hoàn cảnh cách đây hơn 15-20 năm ở các nước đang phát triển như Việt Nam, muốn kiểm tra nói hay viết cũng khó, và thực ra, cũng chẳng biết dùng vào đâu. Thời điểm cách đây 15-20 năm, bảng điểm TOEFL® ITP  rất có giá trị. Tuy nhiên, giá trị này là do hạn chế trong nhận thức của giáo dục và cả xã hội thời đó.

Thông tin thêm, thực chất, đề thi đại học và trung học phổ thông quốc gia nhiều năm nay tại Việt Nam đều bị ảnh hưởng rất lớn từ TOEFL® ITP. Tôi xem đây đây chính là cái hạn chế lớn, vì bị ảnh hưởng bởi một bài thi dựa trên quan điểm khảo thí ngôn ngữ khá lạc hậu. Tôi đã có lần phân tích sơ bộ trên trang Facebook cá nhân.

Từ chuyện “biết tiếng Anh” hay “có [nhiều] kiến thức về tiếng Anh” cho đến chuyện “sử dụng được tiếng Anh” trong học tập hoặc công việc thực tế là một đoạn đường khá xa.


Vậy những bài thi mới như IELTS hay PTE Academic[dù luôn được quảng cáo là kiếm tra chính xác năng lực của thí sinh] thì tốt hơn chăng? Câu trả lời ở bên dưới.

Các bạn xem một phần bài thi đọc PTE Academic hay IELTSthì rõ ràng, về dạng thức chúng không còn kiểm tra riêng lẻ ngữ pháp và từ vựng, mà bây giờ là kiểm tra gián tiếp trong kĩ năng đọc hiểu đoạn văn.

Tuy nhiên, có phải vậy không? Như bài viết #114 – SO SÁNH ĐỀ THI ĐỌC, tôi đã chỉ ra rằng cũng không kiểm tra được gì đáng kể. Tôi thậm chí, có thể chỉ ra lượng từ vựng và ngữ pháp cốt lõi của những bài thi này.

Các từ vựng cần thiết [và các điểm ngữ pháp quan trọng] để thí sinh làm tốt phần thi đọc [và tất cả những phần thi khác] trong các bài thi chuẩn hóa tiếng Anh [định hướng học thuật] như IELTS hay PTE Academicđều được liệt kê trong sách Từ vựng Anh ngữ Ứng dụng©.

Tôi đưa ra một vài từ ở mức độ B2 (cao trung cấp) – C2 (thông thạo) theo khung châu Âu (CEFR) trong 2 trích đoạn đề thi IELTS hay PTE Academicở trên:

  • The manufacturer identified POTENTIAL (B2) problems at the design stage. (tr. 169)
  • The main aim for the meeting is to achieve a satisfactory OUTCOME (C1) for both parties. (tr. 114)
  • Each of the delegates in the meeting suggested a different APPROACH (B2) to the problem. (tr. 73)
  • The CLASSIFICATION (C2) of wines is often done according to their region. (tr. 155)
  • The paper factory has been forced to become PRODUCTIVE (B2) or face closure. (tr. 183)

Như tôi đã nói nhiều lần, điều cốt yếu là phải học đúng cái cần học và học đúng cách.

Dù thí sinh chọn bài nào, thì kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ cốt lõi vẫn là điều quan trọng nhất mà không có yếu tố, kỹ thuật làm bài hay “mẹo vặt” nào có thể thay thế được. Có vốn từ vựng và ngữ pháp tốt thì sẽ có kĩ năng, có ý tưởng. Đơn giản là vậy.

Bài thi có thế nào thì thí sinh vẫn phải thi, nhưng nói ra để các bạn thấy rằng, những bài thi này cũng “không có gì ghê gớm”. Khảo thí ngôn ngữ (language testing & assessment) là lĩnh vực hẹp và không quá phức tạp, thậm chí nó đã đi gần tới hết giớ hạn rồi. Kiến thức của lĩnh vực này tôi thấy rất ít thay đổi qua mấy mươi năm qua; và kiến thức từ vựng và ngữ pháp cốt lõi cũng vậy.

Tham khảo vài bài viết