#111 – TIÊU CHÍ CHẤM BÀI VIẾT

Ở bài viết trước, tôi có đề cập tới việc chấm điểm phần thi nói của bài thi TOEFL® iBTPTE AcademicIELTS™. Trong bài này, tôi đề cập đến việc chấm điểm phần thi viết của những bài thi nêu trên.

Vì trong phần thi viết, các bài thi có nội dung khác nhau, nên ở đây tôi chỉ lấy phần chung nhất, đó là phần Task 2 trong bài thi IELTS™ và phần viết luận ngắn (essay) trong bài thi TOEFL® iBTPTE Academic.

Bảng minh họa bên dưới tôi có ghi chi tiết tiêu chí chấm điểm cho từng phần thi.

Trong khi bài thi IELTS™ ghi rõ 4 tiêu chí thì bài thi TOEFL® iBT chỉ miêu tả chung, mặc dù đọc kĩ thì thấy những tiêu chí của hai bài này khá tương đồng. Trong khi đó, bài thi PTE Academic dùng đến 6 tiêu chí chấm điểm.

Cũng giống như bộ tiêu chí trong phần thi nói đã đề cập trước đây, dù có vẻ là rõ ràng, nhưng mang năng tính định tính. Các bạn thấy một số tiêu chí mà tôi trích ra bên dưới có dễ để cùng đồng thuận, hay có tiêu chuẩn chung gì không?

  • “fully addresses”, “fullly developed”,”fully extended”, “well-supported” hay “sophisticated” (IELTS™)
  • “effectively addresses”, “well developed”, “well organised”, “clearly appropriate” hay “syntactic variety” (TOEFL® iBT)
  • “adequately deal”, “formulate thoughts presicesly”, “broad lexical repertoire” (PTE Academic)

Nếu là người chấm, tôi chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi sự chủ quan (subjectivity), còn nếu máy chấm, thì ngoài việc công bố tiêu chí chấm điểm, còn phải công bố luôn cả dữ liệu ngôn ngữ cốt lõi để “khách hàng” tiện chuẩn bị.

Những những tiêu chí mà các tổ chức khảo thí nêu ra “quá cụ thể”, đến mức, như tôi hay nói đùa, đó là không tranh cãi không được.


Một điểm cần chú ý nữa, đó là, khác với phần thi nói, thì phần thi viết IELTS™ không đề cập đến tiêu chí “idiomatic language”, trong khi bài thi TOEFL® iBT  có nhắc đến “idiomaticity” và PTE Academic có đòi hỏi “idiomatic espressions” và “colloquialisms”.

Cần lưu ý là, cụm từ “idiomatic language” (trong phần thi nói IELTS™) có sự khác biệt khác với “idiomaticity” (trong phần thi viết TOEFL® iBT) và “idiomatic espressions” và “colloquialisms” (trong phần thi viết PTE Academic). Thực tế, trong văn bản và ngữ cảnh học thuật, nếu lạm dụng “idiom” thì có thể gặp rắc rối.

Tôi nghĩ, đối với tiêu chí này, các bài thi nên có sự định nghĩa và minh họa cụ thể, thậm chí là đề xuất một dữ liệu (data) về chúng để người dạy và học tiện theo dõi. Như tôi từng đề cập, việc hiểu “idiom” và vận dụng như thế nào cũng tùy vào nhiều hoàn cảnh và góc độ.

Cá nhân tôi không quan tâm và cũng không dạy các bạn học viên nhiều về thành ngữ. Vẫn không có vấn đề gì.

Như đã đề cập ở bài viết trước, các tổ chức khảo thí như Cambridge Assessment English [BC & IDP Education], ETS hay Pearson VUE nên công khai những bộ dữ liệu ngôn ngữ, bao gồm từ và cụm từ, các điểm ngữ pháp cần thiết hoặc những tiêu chí cụ thể trong phát âm v.v. mà họ muốn kiểm tra. Dựa vào đó, cả thí sinh và giáo viên dễ có sự định hướng trong giảng dạy và học tập. Hiện tại các tài liệu hướng dẫn và dữ liệu học tập có giá trị vẫn chưa có.

Và, dù “phê bình” các bài thi như thế nào, thì chúng ta cũng vẫn phải thi. Vậy đây là giải pháp?

Tôi đã phải xây dựng một kho ngữ liệu (corpus) độc lập về từ vựng và ngữ pháp. tiếng Anh học thuật và định hướng học thuật. Sau đó phân tích ngữ liệu này và rút ra những kiến thức và kĩ năng cốt lõiphương pháp tiếp cận thực tiễn phục vụ cho việc giảng dạy.


Thông tin thêm, các bài thi chuẩn hóa, dù chính thức (như IELTS™) hay chưa chính thức (như TOEFL® iBT & PTE Academic),  đều được các tổ chức khảo thí “mapping” với Khung tham chiếu Trình độ Ngôn ngữ chung của Châu Âu (CEFR).

Các bài thi cũng tự quy đổi điểm qua lại dù không chính thức.

Nhìn vào 2 bảng so sánh ở trên, các bạn có thế sự mâu thuẫn gì trong việc “mapping” với khung châu Âu CEFR và quy đổi điểm giữa các bài thi không?

Việc “mapping” này, dù có dựa trên một số nghiên cứu khảo thí đã được công bố hình thức, nhưng theo tôi đánh giá, thì chỉ mang tính tương đối. Hơn nữa, Khung châu Âu CEFR mặc dù đã miêu tả khá cụ thể về những tiêu chí ngôn ngữ tổng quát ở từng cấp độ từ A1 đến C2, nhưng riêng về tiếng Anh định hướng học thuật (academic) thì chưa có thông tin gì.

Việc “mapping” với khung châu Âu CEFR đã khó chấp nhận, việc quy đổi điểm giữa các bài thi TOEFL® iBTPTE AcademicIELTS™ thì tôi thấy rất không hợp lý. Vì chỉ dựa vào những phân tích sơ bộ tôi đưa ra, thì những bài thi rất khác nhau.


Cá nhân tôi cho rằng, về cơ bản, khoa học xã hội nói chung và lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ nói riêng rất nặng về định tính, mà định tính thì rất khó cho chúng ta “tính”.

Tham khảo bài viết