Tình cờ đọc lại một tài liệu về nghiên cứu khoa học (scientific research), tôi viết tản mạn vài dòng chia sẻ. Tôi vốn là người chỉ “tin cho có” vào cái gọi là “khoa học” và thế giới công nghiệp.

Thường thì “scientific research methodology” (phương pháp nghiên cứu khoa học) là một học lõi trong rất nhiều chương trình đại học và sau đại học. Mục đích không phải là để người học trở thành nhà khoa học (scientist) hay nghiên cứu (researcher) chuyên nghiệp, mà là để người học có cách nhìn nhận và tư duy một cách “khoa học” trong các vấn đề, mang lại hiệu quả ngày càng cao cho công việc và học tập.

Thời nay là “thời” của khoa học, và khoa học nặng về biện chứng (dialectic); tức là, bất kể điều gì cũng phải mắt thấy, tay nghe và kiểm chứng được. Con người luôn muốn định mọi thứ phải được định tính (qualitative) và định lượng (quantitative) rõ ràng. Đại chúng cho rằng mọi thứ phải được nhìn nhận “một cách khoa học”, cái gì có bằng chứng khoa học thì mới đáng tin.

Tất nhiên, không phải khoa học luôn luôn đúng; mà như tôi nhấn mạnh, đây là “thời” của khoa học. Đã từng có thời, khoa học biện chứng được xem là “tà giáo”. Cá nhân tôi cho rằng, không có đúng, không có sai, chỉ là mỗi thời mỗi khác. Có lúc hợp thời thì cũng sẽ có lúc lỗi thời và hết thời.


Trong khoa học thì có nhiều khái niệm, một số khái niệm tiêu biểu và nền tảng là “research paradigm”, “methodology”, “epistemology” hay “ontology”. Đối với học viên và sinh viên có liên quan, đây là những khái niệm trừu tượng và phức tạp; một phần cũng là vì khó có thể dịch những từ này sang tiếng Việt.

Tôi thấy nhiều diễn đàn học tập, giảng viên và sinh viên tranh luận về việc dịch từ này sang tiếng Việt. Thực chất, việc dịch một khái niệm, nhất là lĩnh vực khoa học từ tiếng Anh (ngôn ngữ có hàng ngàn năm tuổi) sang tiếng tiếng Việt (ngôn ngữ non trẻ chỉ hơn 300 năm tuổi) là việc gần như không thể. Người ta hay nói “dịch là diệt”, nghĩa là, dịch cũng chính là giết chết bản gốc.

Người học thông thường hay cảm thấy khó chịu khi phải hiểu một cách mơ hồ bằng tiếng Anh. Nếu ai không quen với chuyện này, thì khó có thể tiến xa trong học vấn và nâng cao tư duy. Có câu “No Child Left Behind” (tạm hiểu: “Không để đứa trẻ nào bị bỏ lại”.). Tôi thì nghĩ khác, còn tùy. “Of course, Some Must Leave Behind” (tạm hiểu: “Dĩ nhiên, một số, cả người lớn và trẻ nhỏ, phải bị bỏ lại.).


Quay trở lại vấn đề, “research paradigm” có thể được hiểu là một tập hợp các niềm tin, khái niệm, mô hình hoặc phương pháp để nhìn nhận, để đưa ra cách tiếp cận, giải pháp và tiến tới giải quyết vấn đề. Có thể tạm dịch “paradigm” là “mô thức”? hay “trường phái”? Tôi thì xem, “paradigm” là “paradigm”, hiểu hoàn toàn bằng tiếng Anh, không cần chen một chữ tiếng Việt nào vào.

Có nhiều “paradigm” khác nhau. Ví dụ, một số người “positivist” (tạm gọi là “người theo trường phái thực chứng”) thì cho rằng, mọi sự vật hiện tiện, đều có thể được đo lường và đánh giá thông qua một phương pháp cụ thể. Từ đó mới có chuyện, mọi thứ đều cũng đem ra cân đo, kiểm tra và cái gì cũng phải định lượng và định tính, suy luận và phán đoán dựa trên mắt thấy tai nghe.

Tôi lấy ví dụ, trong y sinh học, người theo “thực chứng” dùng kính hiển vi và máy móc phân tích thì thấy tế bào cơ thể có chất Vitamin C (việc miêu tả và định danh hoàn toàn do con người đặt ra). Người ta sau đó phát hiện trong trái cây X cũng có chất rất giống với Vitamin C. Sau nhiều “nghiên cứu khoa học thực chứng”, người ta khẳng định rằng nếu con người thiếu Vitamin C thì ăn trái cây X sẽ bổ sung được chất này.

Nhưng mỗi khi thiếu chất, tìm trái có chất Vitamin C thì cực quá; cho nên, người ta dùng máy móc kĩ thuật công nghiệp để chiết xuất trái đó, cô đọng thành từng viên nén Vitamin C cho dễ bảo quản và vận chuyển. Khi nào thiếu chất Vitamin C thì uống vào. Lý luận vậy có lý không? Ở một chừng mực nào đó thì hợp lý.

Tuy nhiên, có chắc là cơ thể của tất cả mọi người đều hấp thụ và tạo thành chất Vitamin C giống y chang trong tế bào? Nếu cho rằng con người là một “tiểu vũ trụ” vô cùng phức tạp, thì không có chuyện hấp thụ chất đơn giản như vậy. Người theo “thực chứng” nhìn mọi sự vật và hiện tượng với con mắt bình thường mà bỏ qua nhiều yếu tố vô hình khác, hoặc những thứ mà máy móc kĩ thuật “hiện đại” chưa đủ khả năng đo được.

Một ý khác, Tây hiện đại thì cho rằng bệnh là do vi rút hoặc rối loạn chức năng sinh học gây ra (dựa vào “thực chứng”); Đông y thì cho rằng bệnh chẳng qua là sự mất quân bình trong cơ thể, “thông bất thống, thống bất thông”. Tôn giáo thì giảng rằng bệnh là do “nghiệp lực” v.v.

Thành tựu khoa học kĩ thuật có thể chế tạo chiếc phi thuyền bên lên tới cung trăng, nhưng vẫn không làm nổi viên thuốc điều trị được ung thư hay đột quỵ. Tôi cho rằng, khoa học phục vụ cho công nghiệp và thế giới công nghiệp thì đang bảo vệ cho khoa học. Khoa học cũng chỉ là một lĩnh vực, chứ không phải là tối cao; khoa học [biện chứng] đang tạm thời thịnh vượng nên nó đang ảnh hưởng mạnh trong hầu hết các lĩnh vực. Bước vào khoa học, là bước vào thế giới của phương pháp, bằng cấp, thứ bậc và giải thưởng v.v.

Tôi lấy một ví dụ khác. Có những khám phá đoạt Nobel Y sinh, ví dụ như Nobel Y sinh 2017 về nhịp sinh học. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng dùng thuốc đúng thời điểm, đúng giờ để tăng tác dụng. Điều này, thực ra đã được ghi trong y văn Đông y từ ngàn năm. Bệnh thế nào, dùng vị thuốc gì, bệnh nhân thuộc cung mạng gì thì có giờ uống thuốc khác nhau. Vấn đề ở đây là, khôi nguyên Nobel bỏ công chứng minh, còn y văn Đông Y thì đơn thuần viết ra chân lý. Con người “hiện đại” rất thích nhìn sự việc dưới lăng kính biện chứng, giải thích, giải phẫu.

Rõ ràng, góc nhìn vấn đề khác nhau thì dẫn tới cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau. Có rất nhiều “paradigm” khác nhau, và chọn “paradigm” nào đối với từng sự vật hiện tượng là do cá nhân tự quyết định, tùy vào ngộ tính của mỗi người. Về mặt bản chất, từ “paradigm” đã phủ nhận chính nó. 


Hay như trong việc dạy và học tiếng Anh, theo các tổ chức khảo thí và dịch vụ giáo dục luôn quảng cáo rằng những bài thi chuẩn hóa luôn được xây dựng với những nguyên lý (principles) và kỹ thuật về khảo thí (testing techniques) gần như hoàn hảo, đảm bảo chính chính xác và độ tin cậy rất cao. Tất cả các bài thi được che bởi vỏ bọc “khoa học giáo dục” rất chặt chẽ. Hiển nhiên, những nhà “công nghiệp giáo dục” phải bảo vệ và đề cao “sản phẩm” của mình, như cha mẹ bảo vệ con.

Thực chất, những ai có kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy và ôn thi lâu năm đều biết là không phải vậy. Những bài thi chuẩn hóa, ở cấp độ nào thì vẫn có thể bị “bẻ” (crack). Và thực tế cho thấy, nếu một thí sinh không hoàn thành tốt bài thi chuẩn hóa ngôn ngữ, cũng không có nghĩa là thí sinh đó có năng lực ngôn ngữ kém. Một thí sinh không có năng lực ngôn ngữ thật sự tốt, nhưng nếu được chuẩn bị về kì thi, thì vẫn có thể đạt điểm tốt. Chúng ta chọn bài thi chuẩn hóa vì đó lựa chọn “ít dở nhất” chứ không phải tốt nhất.


Nói tóm lại, phương pháp nghiên cứu [khoa học] cũng là tập hợp một số phương pháp mà thôi; chúng ta vẫn còn nhiều cách tiếp cận và nhìn nhận khác trong từng vấn đề khác nhau, không nhất thiết phải theo khoa học.