Phần thi đọc PTE Academic có từ 2-3 câu hỏi dạng trắc nghiệm (multiple-choice), thường là tìm mục đích chính (main purpose) của tác giả hoặc của đoạn.

Câu hỏi trắc nghiệm ở phần này có 4 lựa chọn (option), trong đó có 1 lựa chọn chính xác và 3 lựa chọn gây nhiễu (distractors).

Phía ra đề sẽ lấy 1 đoạn văn có văn phong học thuật trong sách báo, tạp chí v.v. và có thể chỉnh sửa đôi chút để tạo ra câu hỏi.

Tôi lấy một câu hỏi bên dưới, chọn ngẫu nhiên khi tôi mở tài liệu ôn luyện PTE Academic của Pearson ra xem.

Để làm được câu hỏi trên, việc đầu tiên là thí sinh phải hiểu rõ câu hỏi và những lựa chọn. Hiểu rõ ở đây là hiểu được ý nghĩa các từ nắm ý chính chứ không phải là dịch ra ý trong đầu. Thí sinh cần nắm rõ những từ gạch chân “common the use” (A), “problem” và “using” (B), “potential benefits” (C) và “detailed description”, “how” và “produced” (D). Ở đây tôi không chú ý vào các động từ “to show”, “to describe”, “to highlight” và “to give” bởi vì chúng đồng nghĩa nhau!

Thường có 2 cách làm.

Cách 1. Đọc sơ qua trong đoạn văn, rõ ràng, thí sinh không thấy chỗ nào có ý giống trong lựa chọn (A) “common the use” hay lựa chọn (D) “detailed description”, “how” và “produced”. Lúc này, còn lại 2 lựa chọn (B) và (C).

Thí sinh có thể thấy “difficult and expensive” giống với “problems” trong lựa chọn (B) nhưng chúng lại đi với động từ là “extract” và “convert” chứ không phải “use”. Không cần lý giải thêm, đáp án cuối cùng là lựa chọn (C).

Cách 2. Thí sinh hiểu rõ cụm từ trong các lựa chọn, đọc 3 câu đầu của đoạn thì thấy rõ ràng về “potential benefits” của “geothermal energy” được thể hiện ở 3 cụm từ tích cực đó là “huge reserves of energy”, “enough energy to provide power for millions”, và “a fifth of Britain’s energy” nên chọn lựa chọn (C) là hợp lý nhất.


Tương tự, làm một bài nối tiêu đề (heading matching) trong phần thi đọc IELTS tôi trích bên dưới từ sách ôn luyện của Cambridge. Bản chất của dạng này là dạng trắc nghiệm giống như của bài thi PTE Academicnhưng dài hơn và bên ngoài có vẻ rắc rối hơn một chút.

Việc đầu tiên thí sinh cũng cần phải đọc hiểu các “heading” trong danh sách. Cần hiểu rõ các [cụm] danh từ được gạch chân “productive outcomes” (i), “teachers” (ii), “explanation” và “cure” (iii), “problem” và “scientific approach” (iv), “danger” (v), “classification” (vi), “age group” (vii), và “those most affected” (viii).

Sau đó làm theo 1 trong 2 cách như ở trên.

Cách 1. Đọc trong bài, rõ ràng, đoạn này [trừ tên riêng nhà khoa học Peter Toohey] thì không đề cập đến cá nhân hay nhóm người nào cả cho nên thí sinh loại bỏ những tiêu đề (ii), (vii), và (viii).

Đoạn này mặc dù có sự giải thích (explanation) trong câu “it can include a lot of other mental states” nhưng không có cách điều trị “cure” nào cả nên loại bỏ tiếp tiêu đề (iii).

Còn lại tiêu đề (i) “productive outcome”, (iv) “problem” và “scientific approach”, (v) “potential problem”, (vi) “classification”.

Đọc tiếp không thấy cụm tính từ hay động từ nào tích cực cả, loại luôn tiêu đề chứa “productive [outcome]” (i).

Mặc dù đoạn này có liệt kê ra hàng loạt các vấn đề như “frustration, apathy, depression and indifference”, “low-energy”, “feeling agitated and restless” nhưng thí sinh cũng không thể chọn tiêu đề có chứa cụm “a potential danger” được vì trong đây còn có mạo từ “a”, tức là chỉ có một “danger” mà thôi trong khi đoạn nói nhiều kiểu “danger”. Thí sinh loại tiếp tiêu đề (v).

Hiện tại, chỉ cần cân nhắc chọn giữa tiêu đề (iv) “problem” và “scientific approach” hoặc (vi) “classification”. Xác suất đúng của thí sinh bây giờ là 50%. Một xác xuất kì vọng rất cao của người mua vé số Vietlott.

Cách 2. Đọc đến câu thứ 2 của đoạn “But defining boredom so that it can be studied in the lab has proved difficult.” thì thấy có cả 2 yếu tố tương đồng. Cụ thể, cụm “defining boredom”, “studied in the lab” liên quan đến “scientific approach” (vì bản chất của “science” vốn là đi “define” sự vật và hiện tượng); và“problem” thì rõ ràng cùng trường nghĩa với “difficult”. Rõ ràng, tiêu đề (iv) thỏa mãn 2 cụm từ khóa trong bày. Đáp án là tiêu đề (iv).

Những cách trên tôi hay khuyến nghị thí sinh sử dụng, còn chọn cách nào còn tùy vào độ khó của đề cùng năng lực từ vựng [kèm một chút ngữ pháp] của thí sinh.

Thực ra, vẫn còn vài cách khác và một vài “mẹo vặt” để làm dạng này.


Tuy nhiên, làm cách nào theo tôi không quan trọng. Dù thí sinh chọn bài nào, thì kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ cốt lõi vẫn là điều quan trọng nhất, mở đường cho thí sinh làm bài mà không có yếu tố, kỹ thuật làm bài hay “mẹo vặt” nào có thể thay thế được.

Gần như 100% các từ vựng cần thiết để thí sinh những bài thi nêu trên có trong sách Từ vựng Anh ngữ Ứng dụng©.

Tôi liệt kê một vài từ mức độ B2 (cao trung cấp) – C2 (thông thạo) theo khung châu Âu (CEFR) bên dưới.

  • The manufacturer identified POTENTIAL (B2) problems at the design stage. (tr. 169)
  • The main aim for the meeting is to achieve a satisfactory OUTCOME (C1) for both parties. (tr. 114)
  • Each of the delegates in the meeting suggested a different APPROACH (B2) to the problem. (tr. 73)
  • The CLASSIFICATION (C2) of wines is often done according to their region. (tr. 155)
  • The paper factory has been forced to become PRODUCTIVE (B2) or face closure. (tr. 183)

Học viên thường phải mất một khoảng thời gian rất dài để “gom” đủ lượng từ vựng và ngữ pháp tiếng Anh cần thiết để sử dụng và ôn thi. Tuy nhiên, với cách tiếp cận và phương pháp của tôi thì việc học này đơn giản hơn rất nhiều lần. Một quyển từ vựng là giải quyết gần hết mọi vấn đề.

Như tôi đã nói nhiều lần, điều cốt yếu là phải học đúng cái cần học và học đúng cách.