Categories
GÓC NHÌN ĐẠO HỌC TỔNG HỢP

QUY TRÌNH GIÁO DỤC?

Hôm trước, hơn 10 giờ tối, thầy chuẩn bị đi ngủ thì một anh gọi, hỏi thầy quen ai bên nhà xuất bản xxx không. Thầy nói mình lâu rồi không liên lạc, nhưng thầy cũng tìm lại số điện thoại và email để giúp anh tiện liên hệ công việc.

Chiều hôm sau, một chị bạn gọi điện hỏi thầy cũng giống vậy, khác là chị hỏi luôn tựa sách nào để dạy trình độ A2 châu Âu theo bài thi Cambridge, để chị đề xuất cho trường. Thầy hỏi, dạy cho ai, chị nói dạy cho sinh viên toàn trường zzz của chị. Thì ra anh gọi tối qua và chị dạy cùng một trường, hiện tại đang luống cuống tìm sách để dạy cho sinh viên cả trường.

Thầy đọc cho chị vài tựa sách, và nói chị tìm cuốn catalogue ELT của nhà xuất bản nào đấy, chọn đại một bộ sách cho xong việc là được rồi. Vì là chị bạn thân, thầy cũng nói thêm là chị đừng “xớ rớ” vào, giúp không được nhiêu, không ai trân trọng, dạy cũng không được bao nhiêu, mà mất công, nay mai có khi mang tai mang tiếng. Có những thứ không sửa được, chỉ có bỏ đi xây lại cái mới.

Thầy cũng rất hay được hỏi “thầy/ anh dạy giáo trình gì?“. Đây là câu hỏi khó. Vì sao?


Thầy nói sơ lược về giảng dạy ngoại ngữ, cũng có thể gọi cho sang [và rộng] là giáo dục ngôn ngữ.

Quá trình giảng dạy ngoại ngữ, nhìn tổng thể, thực chất bắt đầu bằng việc một đất nước [1] xác định mục tiêu và chính sách giáo dục ngôn ngữ tổng thể, trong ngắn hạn và dài hạn, cân bằng giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội v.v.. Việc này thầy không bàn chi tiết ở đây vì thật ra cũng không thể điều chỉnh được một việc đang bị chi phối bởi quá nhiều lợi ích, đan xen và chồng chéo.

Thầy mặc định mọi quyết sách ở thượng tầng đều có tầm nhìn và phù hợp với tình hình thực tế, thì bước tiếp theo là các sơ sở đào tạo [2] xác định chuẩn đầu ra phù hợp với (a) tầm nhìn và năng lực đào tạo, (b) yêu cầu từ môi trường kinh tế xã hội, và (c) học viên, bao gồm những yếu tố như nhu cầu, năng lực, thời gian và tài chính v.v.

Rõ ràng, chỉ ở bước xác định chuẩn đầu ra [tương đối] phù hợp cho việc đào tạo ngoại ngữ tại một cơ sở giáo dục là cực kì phức tạp, vì phải dung hòa với rất nhiều yếu tố như thầy vừa đề cập ở trên. Các bạn cứ tưởng tượng một trường đại học 9 khoa, vài chục chuyên ngành, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, thì làm sao có thể dùng chung một chuẩn ngoại ngữ đầu ra. Nhưng chọn thì cũng phải chọn thôi.

Một ví dụ nhỏ, thầy từng “luyện tiếng Anh” chuẩn đầu ra B1 [châu Âu] cho nhiều lớp học viên cao học kinh tế. Trong lớp đa dạng thành phần, từ cán bộ ngân hàng, viễn thông, kế toán, xuất nhập khẩu cho đến kiểm lâm. Một anh học viên nói với thầy: “em học tiếng Anh là bất đắc dĩ thầy ơi”. Rõ ràng, việc yêu cầu một học viên đang làm kiểm lâm ở Gia Lai, nếu gặp người “nói khác ngôn ngữ” thì cùng lắm tiếp xúc với người dân tộc Ê đê hay Xơ đăng, phải có chuẩn tiếng Anh [đầu ra] tương đương B1 [châu Âu] như một người làm làm xuất nhập khẩu tại cảng Sài Gòn là chuyện khó cho cả người dạy lẫn người học.

Một ví dụ khác, sinh viên chuyên ngành kinh tế đối ngoại, ngoại thương hay marketing thì phải đủ kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ, đạt chứng chỉ BEC Business Vantage hay BEC Business Higher (Cambridge Assessment English) hoặc một bài thì có độ khó tương đương thì mới có thể đủ kĩ năng ngôn ngữ bước vào thị trường lao động, chứ không thể có chuyện học thi vài trăm điểm TOEIC cho xong. Việc xác định một chuẩn đầu ra đúng mức quyết định chất lượng giáo dục thực chất. Cho nên mới có chuyện, đủ chuẩn của trường mà thiếu chuẩn xã hội.

Nhưng thôi, thầy lại mặc định là cơ sở giáo dục đã chọn được một chuẩn ngoại ngữ đầu ra chung phù hợp với tình hình thực tế, thì việc tiếp theo là [3] xây dựng chương trình. Lúc này, lại phải cân nhắc tiếp hàng loạt các yếu tố, bao gồm (a) thời lượng đào tạo, (b) trọng tâm kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ cốt lõi, (c) học viên, (d) chất lượng đội ngũ giảng dạy, (e) cơ sở vật chất v.v. Lại thêm một việc không hề đơn giản.

Thực tế, không thể có một chương trình đào tạo cố định nhiều năm, vì các yếu tố ảnh hưởng đến việc cấu thành chương trình như kinh tế, xã hội, kĩ thuật, công nghệ, chất lượng học viên đầu vào đều có sự biến đổi liên tục từng từng năm, thậm chí từng quý.

Thầy lại mặc định lần nữa là chúng ta đã có một chương trình đào tạo chi tiết với những mục tiêu rõ ràng, thì lúc này bắt đầu bắt tay vào [4] xây dựng hệ thống giáo trình. Để đảm bảo chất lượng đào tạo thì giáo trình phải được xây dựng dựa trên chương trình vững chắc, phục vụ cho mục tiêu đào tạo, và hiển nhiên là không thể có chuyện chọn mua một bộ giáo trình sẵn có, chia từng phần hoặc chọn vài phần ra sử dụng. Tất cả các bộ giáo trình đang có trên thị trường chỉ có giá trị tham khảo mà thôi. Với tình hình hiện tại, tận dụng các giáo trình tốt từ các nhà xuất bản ngoại quốc bằng cách chọn nội dung phù hợp và tổng hợp lại để cho ra bộ giáo trình mới là phương án khả thi và hiệu quả kinh tế nhất, nhưng cũng rất nhạy cảm về bản quyền.

Và quan trọng hơn, cần phải đánh giá tổng thể người học thì mới cho ra đời giáo trình, chứ không có chuyện giáo trình in sẵn, chờ học viên sử dụng. Sử dụng là sử dụng thế nào?

Đến đây, các bạn thấy rõ câu hỏi ban đầu thầy nêu ra: “thầy/ anh dạy giáo trình gì?” là câu hỏi đáng lẽ không bao giờ xuất hiện, và trả lời cũng không có tác dụng gì. Một quyển giáo trình, một danh sách từ vựng, một tập tài liệu ngữ pháp hay một cuốn đề thi không có gì to tát cả. Nó chỉ là một phần nhỏ của quy trình tổng thể.

Bước tiếp theo của quy trình này là [5] quản lý chất lượng giảng dạy. Chỉ riêng việc tuyển chọn, quản lý đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản, đạt chuẩn và duy trì được điều này trong ngắn hạn và dài hạn là điều vô cùng phức tạp, vì nó liên quan đến rất nhiều yếu tố, từ tính chuyên môn, định hướng phát triển nghề nghiệp, chế động đãi ngộ, phúc lợi và hàng loạt các vấn đề cá nhân phát sinh khác.

Bước cuối cùng trong quy trình là [6] khảo thí. Đây lại là một lĩnh vực khá thú vị khác, liên quan tới rất nhiều nguyên lý và kĩ thuật chuyên biệt. Thầy cũng đã nhiều lần đề cập trong các bài viết của mình.

Nhìn một cách tổng thể [sơ lược] thì giáo dục ngôn ngữ đúng nghĩa, đúng thực chất [trong nền công nghiệp] thì ít nhất phải bao gồm cả 6 bước như thầy vừa miêu tả ở trên. Mỗi bước trong quy trình này đều chịu ảnh hưởng từ rất nhiều yếu tố biến động; cho nên, cả quy trình luôn có sự biến động nhất định tùy vào tình hình thực tế. Cũng đúng thôi, vì giáo dục nói chung và kinh tế xã hội phải luôn song hành cùng nhau.

Và còn khó hơn, không thể định lượng ở đây, vì mỗi yếu tố đều mang tính định tính rất cao. Là một mô hình toán học, nhưng không thể tính chính xác bằng các con số. Cho thầy một từ giấy cỡ A0, thầy sẽ vẽ ra mô hình, miêu tả quy trình tổng thể và từng chi tiết để mọi người cùng xem.

Nếu một bước gặp vấn đề thì cả quy trình không thể vận hành hiệu quả. Để làm được điều này, ngoài các yếu tố chính sách, tài chính, văn hóa, xã hội v.v. thì hiển nhiên là yếu tố con người phải luôn được đặt lên hàng đầu.


Nhìn tổng thể, ở nhiều khía cạnh và truy về nguồn cội, thì quy trình giáo dục [hiện đại] là rất phức tạp, và chính vì điều đó, cá nhân thầy không đánh giá cao giá trị của giáo dục [ngôn ngữ] phổ thông đại chúng hiện nay, một quyển giáo trình sử dụng cho hàng ngàn học viên trong nhiều năm, học viên không định hình được con đường học tập, lực lượng giảng dạy thì đủ thành phần, hệ thống quy định quản lý không chặt chẽ, trường không ra trường, lớp không ra lớp, rối loạn xã hội v.v.

Thầy nhiều lần lặp lại thông điệp: giáo dục [và đào tạo] đúng nghĩa không phải chuyện đùa, không phải ai muốn nói thì nói, ai muốn bàn thì bàn, ai muốn làm thì làm. Thực tế, những tòa nhà sử dụng làm phòng học thì nhiều, nhưng trường học đúng nghĩa thì không nhiều; người đi làm công việc giống dạy học thì nhiều, nhưng bậc thầy đúng nghĩa thì không nhiều, và người đi học thì nhiều, nhưng người thực học, học được kiến thức và kĩ năng thực sự thì cũng không nhiều.

Vừa rồi ngày 19/8, các em học sinh tiểu học bắt đầu đến trường. Thầy thấy, có nơi vui chơi, có bạn bè, biết được cái gì thì biết, về nhà lành lặn là tốt rồi, phụ huynh đừng kì vọng gì nhiều. Hiểu được vậy mới là người nhìn ra vấn đề.


Tham khảo bài viết