Kiểm tra và khảo thí ngôn ngữ (language testing and assessment) là một lĩnh vực chuyên môn sâu, liên quan chặt chẽ đến ngôn ngữ học và phương pháp giảng dạy.

Dạy cho một học viên đạt kết quả tốt cũng thú vị như việc, thông qua một bài kiểm tra mà biết được năng lực ngôn ngữ thật sự của người đó như thế nào.

Đứng trên khía cạnh mục đích kiểm tra (purpose of testing), các bài thi trong tiếng Anh có thể tạm được chia thành vài dạng, nói vắn tắt như sau để các bạn hiểu được tổng quan về những bài thi hay gặp trong học tập.

“Proficiency test” (bài kiểm tra sự thông thạo): bài thi này kiểm tra năng lực ngôn ngữ chung (global competence) của một thí sinh. Không cần biết thí sinh học theo chương trình gì, giáo trình gì, phương pháp học thế nào v.v. miễn thí sinh đạt được mức điểm nhất định thì sẽ dựa vào đó mà quy ra năng lực ngôn ngữ. Người ta dựa vào những đặc điểm cốt lõi của ngôn ngữ và những yêu cầu thực tế từ học tập, công việc hoặc cuộc sống đối với ngôn ngữ đó mà xây dựng bài thi.

Những bài thi tiếng Anh chuẩn hóa như IELTS, TOEFL® iBT hay PTE Academic thường là dạng “proficiency test” mang tính quốc tế. (xem bài viết #11 – BÀI THI CHUẨN HÓA )

“Achievement test” (bài kiểm tra kiến thức học được): bài thi này thường là bài thi cuối khóa học hoặc cuối học kì. Bài thi kiểm tra xem học viên đạt được những mục tiêu học tập trong khóa học hay không, có đủ lượng từ vựng hay không, có nắm được ngữ pháp hay không, vận dụng kĩ năng đọc đến mức nào v.v. Dạng “achievement test” được xây dựng dựa vào chương trình học và phương pháp giảng dạy.

“Progress test” (bài kiểm tra sự tiến bộ): cũng có đặc điểm khá giống “achievement test” nhưng bài thi này thường được triển khai liên tục trong khóa học, kiểm tra xem học viên học hành thế nào, giáo viên dạy hiệu quả không, để từ đó mà điều chỉnh cho phù hợp. Tương tự, “progress test” được xây dựng dựa vào chương trình học và phương pháp giảng dạy.

Ở quy mô nhỏ hơn, ta có bài thi “diagnostic test” (bài kiểm tra xem mạnh yếu chỗ nào): dùng bài kiểm tra này để đánh giá xem học viên có thế mạnh và điểm yếu gì, để từ đó mà có điều chỉnh giáo trình, chương trình, chỗ nào nên nhấn mạnh, chỗ nào có thể lướt qua; hoặc “placement test” (bài kiểm trình độ đầu để xếp lớp): thường dùng để xem năng lực hiện tại của học viên thế nào, từ đó mà chọn giáo trình, chương trình và cấp lớp phù hợp.

Tôi đố các bạn, bài thi tiếng Anh tốt nghiệp THPT quốc gia là dạng gì? Là dạng “proficiency hay achievement”, hay sự kết hợp? Thực sự, tôi cũng không biết được nguyên tắc xây dựng của nó, nguyên lý là gì, triết lý ra sao. Nói rộng ra, thậm chí, chính tôi cũng không hiểu rõ được triết lý và mục tiêu của giáo dục nói chung cũng như giáo dục ngôn ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, nói riêng tại Việt Nam là gì. (xem lại bài viết #35 – XEM LẠI ĐỀ THI THPT QG 2018)

Chất lượng của bài thi phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tôi cho rằng, nền tảng kiến thức về ngôn ngữ học, tâm lý giáo dục, và lý thuyết phương pháp giảng dạy là những yếu tố chính; và sự kết hợp, vận dụng những yếu tố này sẽ quyết định chất lượng của bài thi.

Thực tế, người làm công tác khảo thí và người trực tiếp ra đề thi phải là dạng bậc thầy trong những lĩnh vực mà tôi vừa nêu trên. Ra đề thi là một công việc chuyên môn sâu, thậm chí, phải tách bạch nó với việc giảng dạy. Không có chuyên môn hóa thì khó có thể đạt chất lượng. Hiển nhiên, muốn kiểm tra và đánh giá người khác, chúng ta phải ở một trình độ rất cao. Nói theo kiểu dân gian là “cao hơn hẳn vài cái đầu”.

Nói riêng trong môi trường giảng dạy bậc đại học. Tại Việt Nam, việc phải ra đề thi cuối kì, tôi xem là việc “chẳng đặng đừng”. Không làm không được, mà làm thì cũng rất ái ngại về chất lượng.

Khách quan mà nói, nhiều khi việc chương trình học đã có nhiều vấn đề, giảng dạy lại có những vấn đề, và dựa vào đó để ra đề  kiểm tra thì càng sinh ra những vấn đề. Chưa kể, năng lực ngôn ngữ và chuyên môn của đội ngũ cũng chưa được chuẩn hóa. Trong cách chương trình cao học về ngôn ngữ hay giảng dạy, khảo thí cũng chì được học “lớt phớt”.

Tôi từng phải chứng kiến những đề thi rất chấp vá, lấy chỗ này một miếng, lấy chỗ kia một miếng ráp lại. Cho nên, những đề thi cuối kì tại các trường cao đẳng và đại học nói chung, chất lượng rất “phiêu lưu” và rất “nội bộ”. Thực tế xã hội và nghề nghiệp cần cái khác, trường học lại kiểm tra những cái khác.

Cho nên, nếu chúng ta không thể chọn được cái tốt nhất thì hãy chọn cái ít dỡ nhất. Đó là, riêng trong việc học thực hành tiếng (các kĩ năng nghe – nói – đọc – viết), sử dụng các bài thi chuẩn hóa quốc tế có bộ tiêu chuẩn ngôn ngữ đáng tin cậy làm định hướng và tiêu chí đánh giá việc giảng dạy và học tập là điều phải làm. Tôi gọi đó là “test-based teaching & learning” hay “teaching & learning the test”.

Xây dựng chương trình giảng dạy trên nền tảng ngôn ngữ học thì việc phân tích và vận dụng những bài thi chuẩn hóa để phục vụ công tác khảo thí là con đường nhanh nhất để hướng đến tiêu chuẩn quốc tế.

Cụ thể, việc xây dựng chương trình giảng dạy ngôn ngữ và khảo thí nên dựa vào hệ thống bài thi rất đồ sộ và hệ thống hóa của Hội đồng Khảo thí tiếng Anh Đại học Cambridge (CAE) và Viện khảo thí giáo dục Hoa Kỳ (ETS), có sự liên thông chặt chẽ với Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu (CEFR) là giải pháp không thể tốt hơn trong môi trường giáo dục ngôn ngữ hiện nay.


Tham khảo bài viết trên Wikipedia

“Khảo thí theo tiêu chuẩn (hay kiểm tra theo tiêu chuẩn) là một hình thức tiến hành thi (khảo thí) và cấp bằng. Các chứng chỉ là tiêu chuẩn quốc tế được công nhận rộng rãi trên toàn cầu, cho phép các trường đánh giá khả năng học cũng như tiềm năng của các em học sinh.

Tại từng quốc gia đều có một tổ chức khảo thí theo tiêu chuẩn, có thể là nhà nước hoặc tư nhân, đứng ra tiến hành các kỳ thi sát hạch. Tại Việt Nam, kỳ thi tốt nghiệp THPT do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện, bằng tốt nghiệp thường chỉ có giá trị tại Việt Nam và một số nước trên thế giới (với điều kiện học sinh học trường PTTH nào).”


Có một chuyện thế này: lần nọ tôi họp “chuyên môn” tại một trường kia. Các “giảng viên” tranh luận đôi chút về cách ra đề. Những ý kiến đại loại như: “thi nghe hồi trước nghe 2 lần, bây giờ nghe 1 lần”, “đề lúc trước 3 phần, nay đổi thành 5 phần”, “thi nói theo cặp giữa thì sinh hay là vấn đáp giữa thí sinh và giám khảo?”, hay “thi viết có nên bỏ phần viết câu đơn” v.v.

Có người bày thế này, có người nói thế kia, “chỗ kia làm như vầy”, “chỗ nọ làm thế kia”, “tôi thấy bài thi kia kiểm tra như vầy”, “trong bài thi xyz gì đó có phần rất hay” v.v.

Như tôi đã nói ở trên, kiểm tra và đánh giá là lĩnh vực chuyên môn sâu có đặc thù riêng, thậm chí phải độc lập với giảng dạy, có sự định tính và định lượng rất cao. Quá trình ra đề thi phải dựa vào không chỉ dựa vào những nguyên lý (principles) của lĩnh vực khảo thí, mà còn phải bám sát khung chương trình, và kết hợp kiến thức ngôn ngữ học và phương pháp giảng dạy.

Các vấn đề chuyên môn phải được trình bày dựa trên nền tảng lý luận, có luận cứ rõ ràng, có thể đo lường bằng định tính và định lượng. Chúng ta cứ làm theo kiểu kinh nghiệm, lượm lặt thì thì vứt đi.

Xây dựng chương trình chuyên ngành nào thì cần những chuyên gia trong lĩnh vực đó; đây phải là những người có bề dày kinh nghiệm thực tế và kiến thức chuyên môn sâu. Hoạt động giảng dạy thì cần đội ngũ thiện chiến chuyên giảng dạy và dĩ nhiên khảo thí cũng phải có đội ngũ chuyên trách trình độ cao. Làm việc trong “thời đại công nghiệp” thì phải tư duy cho đúng theo kiểu chất công nghiệp.

Nền giáo dục cào bằng chẳng đi tới đâu. Không có gì để chối cãi.


LƯU Ý: Tất cả các bài viết của thầy La Thành Triết chỉ phản ánh quan điểm cá nhân, không mang tính khoa học và không phục vụ mục đích thương mại. Thầy không khuyến khích sự sao chép, đăng tải hoặc chia sẻ ra cộng đồng dưới bất kì hình thức nào.