Trong một bài viết trước đây, thầy có viết về “test myths“, dịch sát nghĩa là “những điều huyền bí về bài thi”, nói gọn là “những lời đồn”, tương tự với từ “rumours“.

Phần đông chúng ta có khuynh hướng tin vào “những lời đồn”. Thầy cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kiến thức và kinh nghiệm (thông tin) về vấn đề; do khách quan cũng như chủ quan, không tìm hiểu một cách nghiêm chỉnh và một phần bị “bao vây” bởi [quá] nhiều thông tin không chính xác.

Những lời đồn thổi xuất hiện trong đủ mọi lĩnh vực cuộc sống, từ việc ông thầy kia trị hết bệnh nan y, vùng đó có hồ nước uống vào hết bệnh, cây đó trị hết bệnh tiểu đường, trường đó dạy rất tốt, đất chỗ đó sắp tăng giá v.v.

Xét về bản chất, những lời đồn thổi không khác gì lời nói dối và sự lừa gạt. Nó chính là vấn nạn tin giả (fake news) mà cộng đồng đang đối diện. “Fake news” đã có từ lâu và nhờ các công cụ truyền thông, mà trở thành vấn nạn vượt ngoài sự kiểm soát.

Bản thân mắt thấy tai nghe, hoặc thậm chí người trong gia đình trải qua còn chưa chắc chắn đáng tin cậy thì nói gì đến việc “nghe giang hồ đồn”. Thiếu kiến thức, thiếu thông tin, niềm tin sai lầm, những lời đồn thổi và hiệu ứng đám đông thường đi chung với nhau, tạo ra vòng lẩn quẩn, kiềm kẹp, làm người ta rất khó thoát ra; từ lúc mới có nhận thức, tới khi đi học, rồi đến bước ra đời và v.v.

Đầu năm nay, báo chí đăng tải hình ảnh hàng trăm sinh viên xếp hàng chen chân [đến ngộp thở] từ 4 giờ sáng trong một tòa nhà, để đăng kí tham dự một thi một kì thi tiếng Anh. Thì ra nhiều bạn nói rằng phải thi càng sớm càng tốt vì sợ tháng sau bài thi này đổi định dạng (format) và nghe đồn là đề thi khó hơn nhiều. Tin đồn lan xa và tụ tập đông thế này. Vài hôm sau, đơn vị tổ chức thi thông báo là đến mấy tháng nữa mới đổi; và thật sự, dưới góc độ chuyên môn, thì cũng chỉ là thay đổi một chút, không có gì đặc biệt đáng kể. Học viên sử dụng sách cũ học như thường vẫn thi tốt.

Trong việc học tập nói chung, các bạn sinh viên nhất định phải có có sự tìm hiểu thấu suốt mọi vấn đề lên quan tới học tập của bản thân, vì nhiệm vụ chính của các bạn trong khoảng thời gian mấy năm này có gì ngoài việc “học tập chuyên nghiệp”.

Không chỉ trong việc học tập và làm việc ở mức độ thấp mới hay tin vào “những lời đồn”, ngay cả học tập ở mức độ cao, ôn luyện cho một kì thi như GMAT (bài thi đánh giá năng lực thí sinh nộp đơn vào các chương trình [kinh doanh] sau đại học tại Hoa Kỳ), thí sinh vẫn còn gặp vấn đề này. Mở đầu cẩm nang hướng dẫn ôn thi GMAT chính thức (2016), cơ quan tổ chức thi còn phải nhắc thí sinh:

  • Myth – If I don’t score in the 90th percentile, I won’t get into any school I choose.
  • Fact – Very few people get very high scores.

Fewer than 50 of the more than 200,000 people taking the GMAT exam each year get a perfect score of 800. Thus, while you may be exceptionally capable, the odds are against your achieving a perfect score. Also, the GMAT exam is just one piece of your application packet. Admissions officers use GMAT scores in conjunction with undergraduate records, application essays, interviews, letters of recommendation, and other information when deciding whom to accept into their programs.

Tạm dịch

  • Lời đồn thổi – Nếu tôi không đạt được 90% điểm số thì không thể vào bất kì trường nào.
  • Sự thật – Rất ít người đạt mức điểm thi quá cao [như trên].

(Có ít hơn 50 trong số hơn 200,000 người tham dự kì thi GMAT mỗi năm đạt mức điểm số 800 hoàn hảo. Có thể bạn rất giỏi, nhưng sự thật kì quái này đang chống lại việc bạn muốn đạt điểm cao. Ngoài ra, kết quả kì thi GMAT cũng chỉ là một phần trong bộ hồ sơ dự tuyển. Nhân viên tuyển sinh sử dụng điểm GMAT cùng với kết quả học tập bậc đại học, bài luận dự tuyển, phỏng vấn, thư giới thiệu và nhiều thông tin khác để quyết định ứng viên nào được nhập học.)

Chính tổ chức khảo thí đã khẳng định, kết quả của bài thi chỉ GMAT là một tiêu chí đánh giá trong nhiều tiêu chí, chứ không phải là tất cả. Dồn sức vào học nếu thí sinh thấy thích thì không vấn đề gì, hay việc thí sinh thi quá giỏi và đạt điểm cao thì dĩ nhiên là điều tốt. nhưng nếu chỉ vì tin vào những lời nói kiểu như “điểm cao là tất cả”, mà phải học bất chấp, thì rất sai lầm, phí phạm thời gian và nguồn lực bản thân. Nói thẳng ra, các trung tâm luyện thi hay tư vấn du học thường hay vẽ ra đủ trò, tạo ra đủ kiểu lời đồn thổi như vậy, cốt yếu vì mục đích kinh doanh mà thôi. Nhiều sự thật rành rành, nhưng bị “bóp méo” đến mức không thể trưởng tượng nổi.


Chiều hôm qua, anh cộng sự mở máy tính và cho thầy xem một vòng “thế giới”, thầy không nghĩ là có cả một “chợ huyện đông đúc” như vậy. Việc học tiếng Anh, du học thôi mà không đếm hết bao nhiêu là chiêu trò. Thầy thấy câu slogan quảng cáo của một công ty du học, IELTS Một tấm bằng, triệu cơ hội.

Thầy nói thế này, IELTS không phải là tấm bằng hay chứng chỉ gì cả, thường gọi vậy là cho suông miệng. IELTS là một bài thi chuẩn hóa tiếng Anh, kết quả được rất nhiều tổ chức giáo dục và nghề nghiệp quốc tế công nhận. Thí sinh đăng kí và hoàn tất bài thi IELTS sẽ được cấp Test Report Form (thầy gọi tắt là bảng điểm), trên đó thể hiện kết quả thi và miêu tả tương đối chi tiết về năng lực của thí sinh.

Theo thông tin chính thức đăng tải, kết quả thi của thí sinh được tổ chức quản lý bài thi lưu trữ trong vòng 2 năm. Khi thí sinh có yêu cầu thì tổ chức này sẽ trực tiếp gửi kết quả đó đến tổ chức chỉ định, ví dụ một trường đại học. Việc này rất hay vì nó tránh việc làm giả bảng điểm và thí sinh cũng không sợ thất lạc giấy tờ. Sau khoảng thời gian 2 năm thì dữ liệu này không còn được lưu trữ. Nếu cần chứng mình năng lực tiếng Anh qua điểm số, thí sinh phải thi lại. Khả năng tiếng Anh của thí sinh trong thời gian này có thể giảm, cũng có thể tăng, nhưng về mặt hành chính thì phải thi. Đó là quy định.

Nộp đơn vào một trường đại học ở Úc hay Canada, bảng điểm IELTS chỉ là một phần nhỏ trong bộ hồ sơ dự tuyển. Không trường nào cần hoặc chẳng có mấy trường cấp học bổng cho thí sinh có điểm IELTS đạt mức “cao ngất ngưỡng”. Tiếng Anh của ứng viên chỉ cần đủ sử dụng cho chương trình học là đủ. Nếu ứng viên được cấp học bổng, bán phần hoặc toàn phần, thì đó là nhờ vào kết quả của nhiều yếu tố khác công lại.

Một số ứng viên chưa có bảng điểm IELTS thì có thể được “nợ lại”, sang đến nước ngoài, học chương trình dự bị tiếng Anh [sẽ tốn kém hơn] rồi mới vào nhập học chính thức, và việc xin thị thực (Visa) có thể sẽ khó hơn một chút. Khó nhưng vẫn xử lý được. Nếu ứng viên được giảm vài ngàn đô la, thì đó là ưu đãi từ nhà trường, do bộ hồ sơ “sạch đẹp”, chứ không phải do tiếng Anh “xuất sắc quá mức”. Nếu xét về cơ hội việc làm thì thầy nghĩ một chứng chỉ tiếng Anh như IELTS càng không có giá trị gì đáng kể.

Như đã nói ban đầu, cách đây vài năm, thầy từng một bài ngắn nói rõ về những cái “myths” trong bài thi (xem bên dưới). Đây cũng chính là cái thầy hay nhắc các bạn học viên trong lớp, vào đầu mỗi khóa học, hướng dẫn cho các bạn cụ thể mọi thứ, để các bạn nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn, từ đó có lộ trình học tập phù hợp. Chuyện học và thi tiếng Anh này vốn rất đơn giản, các bạn làm không được nữa thì thua.


Thực tế, phải thừa nhận rằng, việc xóa bỏ các loại “myths” trong cộng đồng là điều gần như không thể. Thầy viết lại bài này cũng chỉ là để nhắc các bạn học viên của thầy hãy sáng suốt, quan sát, tìm hiểu, đánh giá, nhìn ra đúng bản chất vấn đề. Những điều không rõ thì tìm cho đúng nguồn, đúng thầy.


Tham khảo vài bài viết