Các bạn chắc biết chứng chỉ tiếng Anh quốc gia A, B, C. Rất may, thầy chưa từng phải bị bắt đi thi loại chứng chỉ này bao giờ. Hiện tại cũng không còn nhiều nơi công nhận, thầy cho rằng là do nó chẳng kiểm tra được gì, và hiện tại mua cũng dễ. Thầy lặp lại là mua rất dễ.

Lúc thầy chừng lớp 7, 8, ai có chứng chỉ tiếng Anh A, B, C là rất “sang chảnh”. Dưới quê thầy, học xong là có đợt bao xe về huyện thi, hoặc lên thành phố, thi tại trường hoặc một trung tâm. Sau này thầy mới biết trường đó là trường đại học.

Mấy anh chị thi trước nói thi ở sư phạm là khó nhất, chứng chỉ của trường sư phạm có giá trị vĩnh viễn. Giờ nghĩ lại đúng là tức cười. Lúc đó, ai cũng xem nó là chân lý, và cũng không có thông tin để kiếm chứng. Đứa nào cũng dốt cả, cho nên người trước nói, người đi sau nghe.

Sau này lên đại học, thầy học chung với một bạn đồng hương, từng thi trên đại học sư phạm, chứng chỉ B, C có đủ hết. Nó nói, học ở trung tâm dưới quê, học xong cuốn Streamline Destinations thì thi chứng chỉ B, học xong cuốn Streamline Directions thì thi chứng chỉ C. Đứa nào có tiền ôn ở đại học sư phạm, mua được cuốn đề thì thi chắc ăn bằng khá, giỏi. Hồi đó chắc thí sinh còn học hành, chứ sau này chứng chỉ A, B, C mua rẻ như rau ngoài chợ thì còn động lực gì để học. Sau này thầy mới hiểu ra, mấu chốt của vụ thi này nằm ở cuốn đề.

Lúc mới ra trường, vì công việc, thầy có xem qua mấy cuốn đề thi bằng B và mua mấy cuốn đề thi khác tham khảo, mục đích là lấy lại câu hỏi trong đó để ôn luyện cho sinh viên tại trường.

Đề thi cũng đủ cả nghe nói đọc viết, nhiều đề thì khó cực kì, nhiều đề thì lại rất dễ. Thầy nhớ ‘gớm nhất’ là mấy câu trắc nghiệm thành ngữ (idioms) và cụm động từ (phrasal verbs) trong phần đọc hiểu. Mấy cái đó học không bao giờ hết, nhiều khi tra từ điển vẫn không chọn được, có câu câu nhảm nhí, trời ơi đất hỡi, và học xong cũng không có dịp giờ sử dụng thực tế. Để đỡ phí thời gian, tốt nhất là thí sinh đăng kí thi chỗ nào thì tìm cuốn đề của chỗ đó mà ôn.

Cũng không có một cổng thông tin trực tuyến nào về kì thi chứng chỉ tiếng Anh quốc gia A, B, C để thí sinh và giáo viên tìm hiểu một số thông tin cơ bản, ít nhất cũng phải bao gồm: [1] giới thiệu chung về phạm vi kiến thức & kĩ năng ngôn ngữ của bài thi, [2] hệ thống tài liệu hỗ trợ, [3] bài thi mẫu, [4] thang điểm chung và quy đổi điểm, hay [5] những nghiên cứu liên quan v.v. Thầy tự hỏi, nền tảng của những bài thi này là gì? Căn cứ vào đâu để đảm bảo và đánh giá những yếu tố khảo thí của bài thi như validity, reliabilty hay authenticity (tạm dịch là độ chuẩn xác, độ tin cậytính đích thực)?

Gần đây, thầy mới biết là có thêm kì thi VNU-EPT của ĐH Quốc gia Tp.HCM. Qua tìm hiểu trên trang web của nó, trừ một bài thi mẫu, những công văn quy định rằng bài thi này có thể được dùng tương đương các bài thi chuẩn hóa quốc tế khác để xét tốt nghiệp thì hoàn toàn không có thông tin chuyên môn khảo thí gì khác về bài thi này.

Thầy thấy, phần hay nhất của bài thi này là phần thi nghe được nghe đến 2 lần. Tất cả các bài thi quốc tế chỉ được nghe 1 lần mà thôi. Thực tế, theo các bạn, giả sử bạn qua Mỹ học cao học, trên giảng đường, giáo sư giảng bạn nghe không ra, bạn kêu giáo sư giảng lại cho bạn nghe được không?

Một cái khác mà thầy thấy là người ta cung cấp một bảng quy đổi điểm của bài thi VNU-EPT với một số các bài thi khác và một thang 14 cấp độ. Đạt 376-400 điểm của bài thi này sẽ tương đương chuẩn C2 châu Âu, tức mức thông thạo? Vậy thầy xung phong thi bài này.

Cũng nên nhớ rằng, bảng quy đổi trên, cũng như nhiều bảng quy đổi khác của các trường quốc tế, chỉ có giá trị tham khảo cục bộ mà thôi.

Về bản chất, bài thi này không khác gì chứng chỉ “A Bờ Cờ” một thời cả. Cá nhân thầy thì ngán ngẫm những bài thi ‘nội địa’ kiểu này lắm rồi.

Xây dựng một bài thi chuẩn hóa không phải là chuyện đơn giản, từ những nguyên lý (principles) và kĩ thuật ra đề (techniques), xây dựng một thang đo, phổ điểm, cho tới ngân hàng đề, những nghiên cứu và báo cáo thường kì về chất lượng v.v. để đảm bảo những yếu tố như validity, reliabilty hay authenticity mà thầy đề cập ở trên, cùng hàng loạt tiêu chuẩn khảo thí khác. Quá trình này cực kì phức tạp, cho nên mới có sự ra đời của những tổ chức khảo thí chuyên nghiệp độc lập như Educational Testing Service (ETS) hay Cambridge Assessment English (CAE).

Vấn đề nói thẳng là thế này: thứ nhất, tận dụng thị trường có sẵn để kinh doanh khảo thí, cạnh tranh với các bài thi quốc tế khác, tận dụng lợi thế sân nhà của mình; thứ hai, chương trình ở trường không đủ để thi những bài thi tiếng Anh quốc tế 4 kĩ năng, nên buộc sinh viên phải học thêm tiếng Anh ở ngoài. Nhưng như vậy thì lại mất thời gian và không phải sinh viên nào cũng có thể học được. Sinh viên không ra trường được thì sẽ kéo theo nhiều rắc rối cho cả sinh viên lẫn nhà trường. Hạ chuẩn đầu ra thì không được; cho nên, giải pháp tốt nhất là, tổ chức ra bài thi chuẩn hóa ‘nội địa’. Thi bài thi ‘nội địa’ thì mấu chốt là tìm cho ra cuốn đề thi ‘nội bộ’. Và thậm chí, cần gì cuốn đề ‘nội bộ’, bài thi ‘nội địa’ thì thiếu gì cách!