Vừa rồi, truyền thông có đưa 1 tin giáo dục khá hay, đó là Chứng chỉ quốc tế A Level của Cambridge International sẽ ngày càng phổ biến tại Việt Nam (hiện tại là khối các trường thuộc ĐH Quốc gia HN). Một số trường ĐH khác tại Việt Nam cũng đã chấp nhận Tú tài Quốc tế (IB) như UEF.

Chương trình A-level hay IB rất chuẩn hóa, hệ thống và cập nhật. Để đạt những chứng chỉ A-level hay IB là điều không đơn giản với đại đa số học sinh, nhưng học nó là xứng đáng hơn rất nhiều lần so với chương trình phổ thông hiện tại, khi mà học sinh phải học nhiều cái rất vô bổ, vô cùng phí thời gian.

Thật ra, nếu học sinh phổ thông đã có A-level hay IB thì cũng không nhiều lý do để học ĐH tại Việt Nam. Không đi học phương Tây thì Mã Lai hay Thái Lan cũng là những điểm đến giáo dục tốt.

Thật ra, không cần phải học gì nhiều hay đi đâu xa; chỉ cần tránh học những thứ vô bổ thì đã là thành công lớn.

Nếu học sinh được học theo nội dung chương trình của IB hay A-level thì hay, vì như đã nói, tính chuẩn hóa, hệ thống và sự cập nhật của những chương trình này rất cao nhưng chương trình vẫn gọn nhẹ.

Gia đình nào đang áp dụng mô hình giáo dục tại gia (homeschooling) thì có thể tận dụng nội dung của những chương trình như A-level hay IB cho con em.

Thầy nhớ hồi thầy học lớp 8, cứ 1-2 giờ chiều, thầy phải chạy vào nhà cô để “học Anh văn”. Ở dưới quê là như vậy. Nhà cô trong đồng, đạp xe vô, học chung với bạn bè, rất vui. Vô lớp, nhiều nhất là làm bài tập chia thì, viết câu theo cấu trúc, chọn từ v.v.

Hồi đó không có giấy photo nhiều như bây giờ nên chúng thầy phải chép tay, sau đó làm bài, rồi đưa cô chấm. Chúng thầy làm như cái máy và cô chấm còn hơn cả cái máy. Quanh năm, nhiều nhất là chia thì. Thầy nghĩ, không chừng, lúc đó chúng thầy chia thì còn nhanh hơn người Anh hay người Mỹ bản xứ. Nhưng rồi, 10 đứa thì hết 9 đứa vẫn dốt tiếng Anh. Bây giờ, có ai tự hỏi: “Chia thì nhiều để làm gì?“.

Đi học nhà cô như vậy, cái được nhất là vui, vì được tụ tập, còn cái lợi ích thiết thực nhất là vô lớp sẽ không bị kêu lên bảng trả bài. Hồi thầy chưa đi học thêm thì được lên “kiểm tra miệng” đầu giờ mỗi ngày. Đi học thêm rồi thì được “kim bài miễn tử”. Lúc đó, thuộc lòng mấy cái đoạn hội thoại (dialouge) là điều rất gian khó với học sinh. Về việc học thêm tại Việt Nam thì không cần phải nói nhiều. Dù viện lý do gì, thì cũng là sự bao biện, bao biện cho cá nhân, và gián tiếp tát vào chương trình giáo dục, tát vào mặt thầy cô.

Chiều tối, thầy chở vợ con đi chơi, về ngang con hẻm gần nhà, thấy nhiều phụ huynh đứng chờ con đi học thêm ra, và đáng sợ hơn, đó là chiều tối chủ nhật. Bà giáo nào, ông giáo nào dạy luôn cả chiều tối chủ nhật? Khó tin thật. Còn gì đáng thương bằng học thêm vào chiều tối chủ nhật? Thật sự thì có bao nhiêu em học sinh thật sự muốn đi học giờ đó? Và để học cái gì? Thầy biết tỏng là làm đi làm lại ba cái bài tập vớ vẩn.

Thầy nói với vợ: “mai mốt đừng lâm vào cảnh này nha em, đừng kêu anh đưa con đi học tào lao kiểu này“. Thầy chợt nhớ tới những ngày đạp xe đi học thêm của mình hồi xưa.

Quanh năm suốt tháng tuổi thơ, từ rất nhỏ, học sinh phải đi học thêm rất nhiều môn vô bổ. Con bò sinh ra để nhai cỏ, còn con người sinh ra không phải để nhai kiến thức kiểu này. Học sinh phải đi học vì một nỗi lo, vì lòng tham, vì những nỗi sợ rất hoang đường của người lớn. Đó chính là cái sự học đáng thương nhất. Những giây phút tự do thoải mái dành cho những chuyện vớ vẩn, lấy đi rồi, mấy người lớn có trả lại được hay không?

Có những môn học, có những bài học rất chán, mà vẫn phải dạy và vẫn phải học cho xong, từ chương trình phổ thông cho tới những môn ở trường ĐH. Vấn đề nhiều lúc không phải là học cái gì, mà vấn đề là phải làm sao cho hết giờ.

Chung quy, điều quan trọng nhất là phải học đúng cái chuẩn hóa, cốt lõi và cập nhật. Học đúng cái cần học thì sẽ sáng, đầu óc khai mở, chứ không phải là học quanh năm suốt tháng. Bây giờ, nô lệ đi học nhiều hơn là học sinh đi học đúng nghĩa.