#122 – “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”

Vừa rồi, có em sinh viên vừa tốt nghiệp đại học hôm trước, hỏi tôi việc học tiếp bậc sau đại học. Tôi có nói vài lời.

Ở đây, tôi xin tóm gọn lại con đường chung cho các bạn cùng tham khảo.

Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, học sinh học tiếp chương trình đại học. Tôi ví dụ như chương trình cử nhân ngôn ngữ. Trong chương trình này, sinh viên sẽ học những môn kĩ năng thực hành ngôn ngữ, cụ thể là nghe – nói – đọc – viết. Hoàn thành những môn này, sinh viên học tiếp một số môn về lý thuyết ngôn ngữ học, có thể là là âm học (phonetics & phonology), hình thái (morphology), cấu trúc (syntax), ngữ nghĩa (semantics), hay diễn ngôn (discourse). Về mặt lý thuyết, hoàn tất những môn về thực hành và lý thuyết ngôn ngữ như vầy, sinh viên đã có vốn ngôn ngữ không thua gì mấy so với người bản ngữ [có học hành] của ngôn ngữ đó. Dĩ nhiên, thực tế thì không thể nào đạt được, trừ khi rất giỏi. (Sau giai đoạn này, đúng ra, sinh viên ngôn ngữ Anh đã phải đạt điểm những bài thi chuẩn hóa năng lực ngôn ngữ như IELTStầm 7.0-8.0 hoặc TOEFL® iBT tầm 90-100. Không đủ chuẩn thì không thể đủ khả năng học tiếp được.)

Sau khi hoàn tất giai đoạn này, sinh viên sẽ học tiếp những môn mang tính nghề nghiệp, ví dụ nhưng ngôn ngữ dùng trong thương mại, dịch thuật ngôn ngữ, kinh tế, truyền thông hoặc giảng dạy, học lớt phớt hoặc học sâu, tùy hoàn cảnh. Sau khi hoàn tất những môn này thì đủ chuẩn ra tốt nghiệp đại học.

Tốt nghiệp và trình độ đại học đúng nghĩa, thì đủ [thậm chí dư] sức làm việc trên thị trường lao động.

Sau khi tốt nghiệp đại học, thấy chưa đủ [hoặc chưa đã] hoặc chưa làm việc, thông thường thí sinh sẽ học tiếp bậc sau đại học, đầu tiên là chương trình thạc sĩ (master). Nếu muốn học để biết [sâu] thêm về ngôn ngữ, thì học những chương trình ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics hoặc English language study), nếu học về giảng dạy ngôn ngữ thì có những chương trình về giảng dạy (tiếng Anh gọi tên là TESOL hay TEFL), nếu muốn học về văn hóa thì có thể học American/ British Studies. Nói chung, có nhiều chuyên ngành liên quan, và cả ít liên quan. Các chương trình thạc sĩ này thường không đòi hỏi cao về đầu vào, nếu đủ khả năng tối thiểu, thì ai cũng có thể học.

Tùy trường, tùy khoa mà có các môn học và trọng tâm khác nhau. Tôi ví dụ, trong ngành giảng dạy ngôn ngữ, học viên sẽ học sẽ xoay quanh về ngôn ngữ học (introduction to linguistics), phương pháp giảng dạy (methodology), xây dựng chương trình (curriculum development), tâm lý giáo dục (educational psychology) và khảo thí (assessment), hoặc một số môn khác như công nghệ thông tin trong giảng dạy (ICT hay CALL) v.v. học xong thì tốt nghiệp (nếu chương trình dạng “coursework”) hoặc làm một luận văn (thesis) nếu là chương trình có “định hướng nghiên cứu”.

Tốt nghiệp và đạt trình độ thạc sĩ đúng nghĩa, thì có thể xem là một chuyên gia [ít nhất là về mặt lý thuyết] trong lĩnh vực đó, và dĩ nhiên là thừa sức làm việc trong thị trường lao động.

Tốt nghiệp thạc sĩ, vẫn thấy chưa đủ [hoặc chưa đã] hoặc chưa có gì làm, thì học viên tiếp tục làm nghiên cứu sinh/ tiến sĩ (phải dùng chữ “làm” chứ không phải chữ “học”, vì khi đã có trình độ thạc sĩ thực sự là chúng ta đã thừa sức tự học, cho nên, dùng chữ “học” tiến sĩ là không hiểu bản chất). Làm nghiên cứu sinh/ tiến sĩ là theo đuổi, khám phám một khía cạnh nhỏ trong một lĩnh vực. Ví dụ, người làm sẽ nghiên cứu sâu về một hiện tượng lạ trong tâm lý hành vi, hay một kĩ thuật mới trong lĩnh vực lập trình v.v. Người làm nghiên cứu sinh sẽ phân tích, “bươi móc” những cái ngóc ngách của lĩnh vực này, tìm ra những cái “vô cùng tinh vi”. Cái này có thể là hữu ích trong hiện tại, cũng có thể là sẽ hữu ích trong tương lai [gần hoặc xa]. Quá trình làm nghiên cứu sinh mất vài năm, và [cần] có sự hướng dẫn của một chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực đó, thông thường là một hoặc hai giáo sư.

Sau vài năm làm nghiên cứu thì nghiên cứu sinh sẽ cho ra một công trình. Công trình nghiên cứu, có thể chia ra nhiều mức độ, theo nhiêu khía cạnh. Ở mức độ thấp nhất thì chỉ là ứng dụng, đo lường, hoặc chứng minh hiệu quả của một cái lý thuyết nào đó; cao hơn kế thừa bổ sung của những cái trước đó; và cao hơn hết, là đưa ra một cái hoàn toàn mới, có tính đột phá (breakthrough) trong lĩnh vực. Có những cái rất lý thuyết, có những cái rất thực tế, cũng có thể là khoa học cơ bản, hoặc khoa học ứng dụng. Nhưng dù gì, những thứ này, cần phải công bố công khai [đối với những thông tin có thể công khai]. Ở Việt Nam hay lùm xùm đánh giá một ông/ bà tiến sĩ thật hay “dỏm”, tiến sĩ “giấy” hay “cao su, tôi cho rằng, thật ra chẳng có gì lằng nhằng, cứ là dựa vào thành tích về khoa học, và giá trị của từng công trình, từng bài báo, từng quyển sách mà người đó công bố.

Thông thường, người làm nghiên cứu sinh sẽ nhận tài trợ của trường đại học hoặc từ các tổ chức tư nhân. Cho nên, làm nghiên cứu sinh là những người thực sự có tố chất, tài năng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Rất ít ai tự bỏ tiền túi ra đi học, vì nếu tài năng thực sự, và làm nghiên ở những ngành đang cần trong thực tế, thì rất dễ kiếm được tài trợ từ các quỹ tư nhân. Hiếm có trường hợp một người tự bỏ tiền túi ra đi làm nghiên cứu sinh. Và vấn đề là sau khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp ở bậc học này thì học viên phải tiếp tục nghiên cứu tiếp, vì đây chỉ là bước khởi đầu của một nghề. Quan trọng vẫn là, một người đã làm được cái gì, chứ không phải đã học được cái gì, học nhiều hay không.

Nói tới nghiên cứu sinh, nói tới tiến sĩ là nói tới một ngành nghề, nghề nghiên cứu [khoa học]. Đánh giá một nghiên cứu sinh/ tiến sĩ thì phải xem người này từng được ai hướng dẫn, có thành tích khoa học, số công trình đã công bố, sách vở người đó xuất bản v.v. Nghề này, làm cho đúng nghĩa, thì là nghề rất vất vả đầu óc và lỡ bước theo thì gần như phải theo cả đời. Dĩ nhiên, cái gì cũng có giá của nó.

Sau khi hoàn thành xong chương trình tiến sĩ, thì một người có thể tham gia thêm một [vài] dự án [nghề nghiệp] ở môi trường đại học. Ở một số nơi, làm xong sẽ nhận một cái giấy chứng nhận (certificate), gọi là hậu tiến sĩ (post-doc). Một số nơi thì không cấp. Cái này cũng chỉ là hình thức, một dạng tập dợt, thực tập cho quá trình hành nghề nghiên cứu về sau.

Đọc tới đây, mới thấy tiến sĩ là một nghề, nghề nghiên cứu khoa học, cho nên, đánh giá tay nghề nghiên cứu khoa học của một người, thì phải dựa vào thành tích nghề nghiệp người đó. Cho nên, thể chế xã hội nào mà chỉ dựa vào cái bằng tiến sĩ (một giấy chứng nhận) để đánh giá, bổ nhiệm một người thì thể chế đó chưa hiểu bản chất vấn đề, hoặc hiểu nhưng cố tình không hiểu.

Vậy là, hoàn thành chương trình thạc sĩ, chúng ta đã [tạm] có một chuyên gia [theo tiêu chuẩn] của giáo dục Tây phương, và hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh/ tiến sĩ, chúng ta vừa có một chuyên gia và vừa một người hành nghề nghiên cứu chuyên nghiệp. Nếu theo ngành ngôn ngữ thì có chuyên gia ngôn ngữ; theo ngành khoa học kĩ thuật thì có chuyên gia kĩ thuật, công nghệ.

Về mặt hình thức, trong tất cả các lĩnh vực khoa học Tây phương, để được gọi là một chuyên gia đúng nghĩa, qua trường lớp, đào tạo bài bản thì đa phần theo chung một con đường như vậy. Dĩ nhiên, vẫn còn những con đường khác.

Lưu ý: Tôi đang nói là khái quát ở xứ văn minh, các nước phát triển. Ở Việt Nam thì cái sự học này, hình thức có thể giống nhưng bản chất rất khác.

Tham khảo một số bài viết