Bài thi IELTS được dùng để đo lường sự thông thạo ngôn ngữ của những người học hoặc làm việc ở nơi mà tiếng Anh được sử dụng làm ngôn ngữ giao tiếp (measures the language proficiency of people who want to study or work where English is used as a language of communication).

Đứng ở khía cạnh khảo thí ngôn ngữ, có thể xếp bài thi IELTSvào loại “proficiency test”, tạm dịch là “bài thi kiểm tra sự thông thạo”, tức là, không cần biết thí sinh học theo chương trình gì, học như thế nào, học trong bao lâu v.v. miễn thí sinh thi đạt một mức điểm nào đó, thì tổ chức khảo thí sẽ dựa vào mức điểm đó để đánh giá trình độ thí sinh. Và những nơi tiếp nhận thí sinh, ví dụ như trường đại học, hoặc các tổ chức kinh doanh, sẽ dựa vào đó để đưa ra những quyết định về tuyển dụng hoặc nhập học v.v.

Cụ thể, khi thí sinh đạt điểm IELTS6.0, thì người ta sẽ dựa vào “band scale” (thước đo bảng điểm) để kết luận rằng thí sinh “có khả năng giao tiếp nói chung thông thạo mặc dù còn một số chỗ không chính xác, không phù hợp và hiểu sai; có thể sử dụng và hiểu được ngôn ngữ diễn đạt khá phức tạp, đặc biệt là trong những tình huống quen thuộc” (has generally effective command of the language despite some inaccuracies, inappropriacies and misunderstandings. Can use and understand fairly complex language, particularly in familiar situations).

Căn cứ vào các tiêu chuẩn đã thiết lập sẵn, cơ quan di trú sẽ dựa vào điểm IELTS của ứng viên đó để xem họ đủ điều kiện xin thị thực hay không; công ty kinh doanh sẽ dựa vào đó mà quyết định tuyển dụng hoặc bố trí công việc; và trường đại học sẽ dựa vào đây để quyết định chấp nhận sinh viên nhập học hay không.

Thay vì phải tổ chức những kì thi riêng để đánh giá năng lực của ứng viên, thì nay, các đơn vị hoặc trường đại học “giao việc” này cho những tổ chức khảo thí độc lập (testing services) làm, vừa tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo tính chuyên nghiệp. Vừa tránh được gánh nặng, vừa tạo ra thêm được cả một ngành công nghiệp giáo dục.

Những bài thi chuẩn hóa thuần ngôn ngữ như IELTS, TOEFL® iBT hay, PTE Academicra đời là mục đích như vậy. Trong thị trường “mua bán bài thi” này có rất nhiều tổ chức khảo thí và rất nhiều sản phẩm bài thi, ví dụ như bài thi The Michigan English Test (MET) hay những bài thi của LCCI [đã được Pearson mua lại] như JETSET v.v.

Các tổ chức có kênh truyền thông rất, lại có mối quan hệ tốt với các cơ quan giáo dục và chính phủ các nước bằng nhiều con đường, cho nên, chúng ta hay có ấn tượng là sản phẩm dịch vụ àai thi họ cũng chất lượng. Thực chất, không hẳn là như vậy. Đọc kĩ một số bài viết trên website này, các bạn sẽ thấy, nếu phân tích ở khía cạnh khảo thí ngôn ngữ, thì bài thi chuẩn hóa vẫn có nhiều hạn chế.

Rất khó để cân bằng giữa chất lượng một bài thi và tính thương mại của nó. Đòi hỏi kĩ năng và kiến thức ngôn ngữ cao thì kén người thi, còn đơn giản dễ đoán thì chẳng có giá trị gì cả. Hay như trong bài thi IELTS, một số tiêu chuẩn chấm điểm rất phi thực tế. Tham khảo bài viết bên dưới để thấy thêm những vấn đề khác.


Cho nên, cá nhân tôi cho rằng thí sinh nên nhìn bài thi một cách đơn giản. Chúng cũng chỉ là những sản phẩm dịch vụ mà chúng ta phải bị “ép” bỏ tiền ra sử dụng, và không nên “quá” nghiêm túc hay lo lắng. Đừng câu nệ quá nhiều, học nhanh, thi nhanh cho xong. Vì còn nhiều cái khác quan trọng hơn.

Đem bài thi để làm mục tiêu học tập, theo tôi, điều này cũng đúng, và rất thực tế, nhưng không cần thiết làm thái quá. Dựa vào bài thi để làm định hướng cho việc học tập chứ không phải bài thi là mục tiêu học tập.

Sử dụng tiếng Anh để học tập và làm việc một cách hiệu quả [sau khi đã xin được ‘visa’] mới là điều quan trọng; mà tiếc là điều này thì chưa có bài thi nào kiểm tra hay đánh giá được.

Tham khảo vài bài viết