Càng ngày thì việc kiểm tra và đánh giá (khảo thí) càng được hệ thống hóa và định lượng chặt chẽ thông qua các thang đo chuẩn hóa quốc tế như một xu hướng tất yếu trong giáo dục ngôn ngữ.

Tôi không cho rằng những thang đo chuẩn hóa trong khảo thí là hoàn toàn chính xác vì quá trình xây dựng chúng đều nhận sự tài trợ hoặc tác động ít nhiều từ các tổ chức giáo dục và thương mại. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, những thang đo và hệ thống bài thi như thế này vẫn là tiêu chuẩn rõ ràng, dễ áp dụng và ít gây tranh cãi nhất.

Giới thiệu với các bạn bảng minh họa chính thức thể hiện mối quan hệ giữa Khung tham chiếu năng lực ngôn ngữ châu Âu (CEFR), hệ thống bài thi tiếng Anh của Cambridge Assessment English (CAE) và bài thi IELTS.

Thang đo chính thức này được công bố để giúp các tổ chức giáo dục và nghề nghiệp thấy được mối tương quan giữa các bài thi và khung tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế, từ đó chọn bài thi và mức điểm phù hợp cho các mục đích đào tạo hoặc nghề nghiệp.

Dựa vào khung tham chiếu trên, nếu dùng bài thi IELTS làm bài thi đánh giá năng lực tiếng Anh đầu ra cho sinh viên thì có thể làm như sau. Nếu lấy chuẩn đầu ra tiếng Anh cho sinh viên (không chuyên ngữ) ở mức độ B1 thì các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam có thể chọn mức điểm IELTS từ 4.0-5.0. Đối với sinh viên những chuyên ngành đòi hỏi cao về tiếng Anh như ngoại thương, kinh doanh quốc tế, ngoại giao hay quan hệ quốc tế v.v. thì các trường có thể chọn chuẩn B2, tương dương mức điểm IELTS từ 5.5 đến cận 6.5. Đối với sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Anh thì cần phải yêu cầu chuẩn đầu ra C1, tương đương với mức điểm IELTS tối thiểu 6.5.

Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở chỗ chọn bài thi nào. Các trường có một danh mục rất nhiều bài thi khác để lựa chọn, tùy vào mục tiêu đào tạo, năng lực đào tạo, yêu cầu từ thị trường lao động và yếu tố kinh tế (lệ phí thi hoặc tổ chức thi).

Vấn đề ở đây là các trường nên tham khảo bảng mô tả bên trên để xác định chuẩn đầu về tiếng Anh cho sinh viên, từ đó có định hướng ra mà là phải xây dựng chương trình đào tạo và phát triển ngũ giảng dạy để nâng cao hiệu quả học tập nói chung.

Những bài thi chuẩn hóa tiếng Anh chỉ là bài thi đánh giá năng lực ngôn ngữ đơn thuần. Nếu trong vài trăm giờ đào tạo (hàng chục tín chỉ) mà không thể đạt chuẩn thì nên xem lại cả hệ thống đào tạo, từ năng lực ngôn ngữ đầu vào của sinh viên, khung chương trình đào tạo và năng lực đội ngũ giảng dạy. (xem bài viết #11 – BÀI THI CHUẨN HÓA)

Việc chọn chuẩn ngoại ngữ đầu cũng phần nào thể hiện năng lực đào đạo và chất lượng sinh viên chung của mỗi trường. Không khó để nâng cao chất lượng giáo dục. Điều quan trọng nhất là phải nhìn thẳng vào vấn đề để thấy được bản chất và tích cực tìm cách giải quyết.