Một số phụ huynh chia sẻ với thầy, đối việc thi cử của con em, thực sự rất lo lắng. Trong một số buổi nói chuyện tại các trường, thầy có chia sẻ để mọi người hiểu ra vấn đề. Mấu chốt là học đúng thì sẽ có kết quả tốt.


Chuẩn hóa (standardized) một thuộc tính của thời đại văn minh công nghiệp. Tất cả phải quy về những quy chuẩn chung để phân loại và đánh giá. Giáo dục, nếu xem là công cụ phục vụ thể chế và công nghiệp thì phải được chuẩn hóa. Hệ thống bằng cấp, chứng chỉ và xếp hạng trong giáo dục được thiết lập vì mục đích chuẩn hoá. Trong giáo dục, đặc biệt là khảo thí ngôn ngữ, người ta xây dựng những thang đo tiêu chuẩn quốc tế và những hệ thống bài thi chuẩn hóa tương ứng.

Trong giảng dạy tiếng Anh, sử dụng Khung tham chiếu Trình độ ngôn ngữ chung Châu Âu (CEFR) và hệ thống bài thi đối ứng của Cambridge Assessment English, cùng các bài thi chuẩn hóa như IELTS™, PTE Academic hay TOEFL® iBT là phổ biến. Không hẳn những bài thi này là có chất lượng chuyên môn tốt nhất, nhưng chúng có tính chính danh, tổ chức độc lập và kết quả thi tương đối công bằng nhất so với những lựa chọn thi nội bộ khác.

Khi đã có một bài thi tốt và được thị trường chấp nhận, thì việc tiếp theo là biến nó thành một sản phẩm thương mại phát triển bền vững; và lâu dài là một hệ sinh thái thi cử. Có bao giờ các bạn thí sinh thắc mắc lệ phí thi IELTS™ hay TOEFL® iBT tại Việt Nam đến gần 150 đô la Mỹ (đã bao gồm thuế)? Có nhiều lý do, một trong số đó là cái gì có thể đắt được thì không cần rẻ. Thử lấy máy tính ra làm vài phép tính đơn giản, chúng ta sẽ thấy những con số khổng lồ.

Bài thi IELTS™ phổ biến hơn những bài thi cùng loại, được Hội đồng Anh (BC) và Tổ chức giáo dục IDP (viết tắt là IDP) tại Việt Nam tổ chức đều đặn mỗi tuần. Họ cũng tổ chức hàng loạt các buổi thi thử, thuận tiện cho thí sinh trải nghiệm. Có em học viên thầy thi đạt IELTS™ 7.0, báo cho thầy, rất vui mừng và phụ huynh cũng vui vẻ cảm ơn. Em này hoàn tất hồ sơ để du học vào đầu năm sau. Kết quả thi tạo cho gia đình cảm xúc khó tả. Nhưng, thật sự, nếu không thi IELTS™, thì em ấy vẫn năng lực tiếng Anh cho việc du học. Em phải ôn thi IELTS™ để chứng minh một điều hiển nhiên, mất 150 đô la và vài tuần ôn tập.

Thực chất, mức điểm IELTS™ 5.0-7.0 là phổ điểm trung bình phổ biến và đủ để thí sinh làm nhiều việc, từ đủ chuẩn tốt nghiệp, bổ túc hồ sơ xin thị thực (visa) du học cho đến định cư. Thậm chí, có chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Việt Nam chỉ đòi hỏi mức điểm IELTS™ từ 5.0 cho đầu vào và 5.5 để được bảo vệ luận văn (tham khảo ĐH Kinh tế Tp.HCM). Đây thực sự là yêu cầu ngoại ngữ ở mức độ rất cơ bản so với trình độ đào tạo.

Thầy hay nói, đây những mức điểm IELTS™ 5.0-7.0 là vừa đủ hạnh phúc, mọi người cùng vui. Vì sao như vậy?


Thứ nhất, như thầy vừa đề cập, thí sinh đạt mức điểm như trên sẽ làm được nhiều việc. Nếu xem tiếng Anh là một công cụ hỗ trợ công việc và học tập, cũng không muốn dành nhiều thời gian cho nó, thì để đạt mức điểm IELTS™ 5.0-7.0, học viên có năng lực ngôn ngữ trung bình, thậm chí đối với cho một số học viên yếu, chỉ mất chưa đến 90 giờ thực học tại lớp. Không có gì phải nỗ lực quá sức hoặc đến mức chiến đấu. Nếu cần một bảng điểm tiếng Anh bổ sung hồ sơ thì IELTS™ là lựa chọn vừa phải, đủ vui và đủ để tự hào đôi chút – thỏa mãn, nhẹ nhàng.

Thứ hai, giáo viên dạy học viên đạt được mức điểm IELTS™ 5.0-7.0 sẽ dễ có ảo giác là mình thành công. Thực ra, mức điểm đó là bình thường – trung bình. Người dạy nỗ lực bình thường, người học nỗ lực bình thường, đúng hướng thì đạt được mức điểm này cũng là điều bình thường thôi. Trong một bài viết cách đây hơn 4 năm, thầy có nói mức điểm này chính là do tổ chức khảo thí có chủ ý ban tặng cho những nỗ lực trung bình, nhưng nó đủ để tạo ra niềm tự hào, khiến giáo viên cùng các tổ chức đào tạo tiếp tục quảng bá kì thi.

Xa hơn, dựa vào sự thành công bình thường cùng lại lợi ích tài chính mà các tổ chức giáo dục cộng sinh thu được, BCIDP tiếp tục mở rộng quy mô, biến nhóm đối tượng này thành đối tác, xây dựng chuỗi đại lý trong việc quảng bá và tiếp nhận thí sinh. Chỉ với việc ban phát danh hiệu đối tác, thì rõ ràng BCIDP đã “nhất tiễn hạ tam điêu”, [1] mở rộng tầm bao phủ, [2] giảm tải  lực xử lý số lượng sinh đăng kí dự thi trực tiếp, [3] thêm các tổ chức giáo dục cộng sinh. Đối tác của BC hoặc IDP thực chất chỉ là chỗ đăng kí hộ, nhận hoa hồng.

Thứ ba, đối với các tổ chức xuất bản tài liệu giảng dạy, thì việc xây dựng những bộ giáo trình cho mức điểm IELTS™ 5.0-7.0 là nhẹ nhàng về nội dung; dễ dàng tạo ra các hoạt động học tập và giảng dạy trong phạm vi lớp học, phù hợp cho đại đa số người học có năng khiếu ngôn ngữ ở mức trung bình khá. Đối với đại đa số các đơn vị xuất bản thì tiêu chí đầu tiên là ít tiêu tốn nguồn lực đầu tư sản phẩm và dễ đưa sản phẩm ra thị trường.

Thứ tư, đối với phần lớn các tổ chức giáo dục và nghề nghiệp chấp nhận kết quả thi IELTS™, thì mức điểm IELTS™ 5.0-7.0 vừa đủ để họ có tập ứng viên đủ lớn để chọn lọc ứng viên có năng lực tiếng Anh vừa đủ để học các chương trình bình thường (trừ luật và y khoa) hoặc đáp ứng được yêu cầu công việc.

Bên trên chỉ là vài điểm quan trọng thầy đề cập về bài thi IELTS™ và cả những bài thi chuẩn hóa có vị thế khác trong thị trường khảo thí. Nhìn từ nhiều góc độ khác cũng khá thú vị; thầy sẽ trình bày thêm khi có dịp chia sẻ trong các bài viết và buổi nói chuyện.

Một sản phẩm bài thi như IELTS™ thật sự đã tạo được một hệ sinh thái, đủ thành phần hội sinh, cộng sinh, hợp tác và cả đối kháng, thỏa mãn và dung hòa lợi ích của nhiều nhóm đối tượng. Đó chính là mô hình phát triển bền vững trong nền văn minh công nghiệp hiện đại, tương tự như hệ sinh thái iOS hay Android trong thế giới thiết bị di động.

Nhìn một sự vật và hiện tượng từ nhiều góc độ, truy về nguồn cội sẽ giúp thấu suốt vấn đề. Sự thấu suốt mang lại sự tự do. Như đã đề cập ở đầu bài, thí sinh thi cử đúng nghĩa, học tập đúng hướng, đúng kiến thức và kĩ năng cốt lõi thì không phải lo lắng.

Bài thi là để thi. Không hẳn, chính xác hơn, “bài thi là để bán“.


Tham khảo bài viết